Tín ngưõng tôn giáo nói chung

Tín ngưõng tôn giáo nói chung

Củng đã có nhứng giả thuyết táo bạo hơn cho rằng, các vị nữ thần khác mà người Việt hiện đang thờ phụng, như Tứ vị Thánh nưong, thậm chí cả thánh Mầu Liễu Hạnh cũng có nguồn gốc Chăm? Hơn thế nữa, việc hình thảnh văn hóa Chăm trong thòi cổ đại nói chung và hình thành tín ngưởng – văn hóa Chăm, mà hiện tượng thờ Bà Mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar củng là mẫu hình đặc trưng của sự giao tiếp và bản địa hóa văn hóa và tín ngưởng Ân Độ.>>Khóa luyện thi violympic toán 4

Quá trình hỗn dung, tiếp biến văn hóa này ỏ Trung Bộ thể hiện trên bình diện tin ngưỡng tôn giáo không chỉ giữa ngưòi Chăm với Bàlamôn giáo Ân Độ, giữa người Kinh và người Chãm mà còn cả với người Hoa và tín ngưỡng Trung Hoa. Việc thò cúng Thiên Hậu, một vị nữ thần biến Trung Hoa không chi thu hút lòng tin và ngưởng vọng cứa ngưòi Hoa mà còn với cá người Kinh nứa.

>>Luyện thi PTTH xem ở đây

  1. Tín ngưõng tôn giáo nói chung và tín ngưỡng thờ nữ thần nói riêng ỏ Trung Bộ thể hiện rõ nét hơn tính dàn gian và tính cung đình. Nếu không kể tói việc các vương triều Chãmpa tôn sùng Pô Inu Nưgar là vị thần nử tối thượng của Vương quốc và xây đền, tạc tượng vàng, tượng ngọc dể phụng thờ. Điều này không có gì khó hiểu đối với một xã hội mẫu hệ như xã hội người Chăm. Còn với các voiơng triều Đại Việt lấy phụ quyền làm nền tảng, thì ít nhất cũng có hai sự kiện lịch SIỈ mà qua các vị thần lỉnh ỏ Trung Bộ, trong đó tiêu biểu là các nủ thần đuọc phong thần và thờ phụng dưới dạng cung đình hóa. Đó là việc các vua quan thòi Lý, Trần trong quá trình bình Chiêm và mỏ rộng bờ cõi về phía nam, tuong truyền đều đuựt các nữ thần Tú vị Thánh Nưong, Thiên Ya Na phủ trọ nôn sau chiến thắng, để trả ơn, triều đình đều phong thần và xây cất đền miếu thò phụng. Điến hinh hơn cả là các vị vua triều Nguyễn, một triều đại định dô tại Trung Bộ. Đó lá trường hợp Vua Gia Long, thời còn chiến tranh vói anh cm nhà Tây Son, đă tửng được Cá ông và Linh Son Thánh Mẫu lỉnh úng cứu giúp nên thoát nạn.

Gần đây hon là trường hợp vua Đồng Khánh, tương truyền được Thánh Mẫu ỏ điện Hòn Chén báo mộng và phò giúp nên đã lên ngôi Hoàng Đế, sau đó vị Vua này đã trớ thành tín đồ Dạo Mẫu, bỏ tiền của tu bố đèn điện, sửa sang nghi lễ mang tính cung đình. Đây củng là cách kết họp giữa vưnng quyền và thần quyền, làm cho nhiều tín ngưởng dán gian được “lên khuôn” theo hướng lịch sứ hỏa, cung dinh hổa.

  1. Nếu chứng ta quan niệm rằng, trong tín ngưỡng dân gian, lễ hội bao gồm phần nghi lễ, lồ thức và phần hội là các sinh hoạt văn hóa kẽm theo, thi quả là trong các lễ hội gắn vói tục thờ Mẩu ồ Trung Bộ thường nặng phần ìễ hơn ìà phấn hội, thậm chí trong nhiều nghi lễ chỉ có lẽ mà không có hội. Đô là các nghi thức tế, lễ, rước, trong một số trường họp có sủ dụng âm nhạc, hát, múa thì chứ yếu vẫn một phần của nghi lễ, phục vụ cho nghi lễ, chứ không phải nặng tính diễn xướng phục vụ cho vui chơi, giải trí. Chính vì vậy mà những thập kỷ sau giái phóng, với quan niệm tín ngưõng là mê tín dị đoan, nên nhiều nghi lễ bị cấm đoán. Sau này, khi quan niệm thành kiến kế trên đã thay đổi, thi cùng với việc phục hồi các lễ hội cổ truyền, nguòí ta thường lúng túng trong việc bảo tồn và phát huy phần sinh hoạt văn hóa, dẫn đến việc đua các sinh hoạt văn hóa mới vào lễ hội, trong đó có nhứng trường hợp phù hợp, thành công, nhưng cũng có không ít trường hợp chưa phù hợp, nhất là xu hướng đang rộ lên hiện nay, thông qua lễ hội để quảng bá cho du lịch. Trong các dạng lễ hội này, ngưòí ta thường ít thấy vai trò của cộng dồng với tư cách là chủ thể văn hóa, mà chỉ thấy vai trò của nhà nước hay của các chủ thế khác mang nặng tính tuyên truyền hay kinh doanh.

Share This Post

Post Comment