LÊ QUÝ ĐÔN – MỘT VỊ QUAN THANH LIÊM, CHỐNG THAM NHŨNG

LÊ QUÝ ĐÔN – MỘT VỊ QUAN THANH LIÊM, CHỐNG THAM NHŨNG

LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784), Tự LÀ DOÃN HẬU, HIỆU là Quế Đường, quê ở làng Phú Hiếu, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình. Ỏng là một nhà bác học lớn nhất của nước Việt Nam dưới thời phong kiến. Trong đời ông, Lê Quý Đôn viết rất nhiều tác phẩm về văn học, triết học, địa lý, quân sự, chính trị, nghệ thuật, sử học, thực vật học… không những thế ỗng còn lá một nhà chính trị luôn quan tâm đến nhân dân, một vị quan thanh liêm, một vị đại thần chống tham nhũng.

>>Thủ thuật hay để thi Violympic

 

Lê Quý Đôn là con trưởng của Hình Bộ Thượng thư Lê Phú Thứ thòi nhà Lê. Lên 5 tuổi Lê Quý Đôn đã thuộc làu kinh thi, 6, 7 tuổi đã làm thơ, làm văn nổi tiếng là thần đồng. Năm 18 tuổi ông đỗ Giải nguyên, 27 tuổi đỗ Bảng nhãn.

>>Luyện thi PTTH

 

Hồi Quý Đôn còn nhỏ, một lần vì mắc tội vổi một vị quan lớn do việc nói năng, đối đáp. Thân phụ ông mối gọi đến máng:

  • Mày thật vô lễ, rắn đầu rắn cổ dạy mãi không nghe. Thôi ta tha cho lần này khỏi bị đòn, nhưng phải làm bài thơ tự trách để chuộc tội.

Quý Đôn hú hồn, lấy lại tinh thần, ứng khẩu làm bài thơ:

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà Rắn đầu biếng học chẳng ai tha Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ Nay thét, mai gầm rát cổ cha Lém mép chỉ quen tuồng nói dối Lằn lưng cam chịu vết roi tra Từ nay Châu, Lỗ chăm nghề học Kẻo hổ mang danh, tiếng thế gia.

Thân phụ ông và quan bạn hết sức sửng sốt, không ngò cậu bé còn ở truồng mà làm được một bài thơ tài hoa như thế. Bài thơ nhắc đến loài rắn là một ngụ ý rất tài tình.

Lại có một lần lúc hơn mười tuổi, một hôm ông đến nhà lý trưởng chơi, tình cò trông thấy một quyển sổ biên những ngưòi thiếu thuế, kê một vài quan tiền, ngưòi năm bảy đấu thóc, chi chít nhiều trang, ông tò mò xem qua rồi trả lại. ít lâu sau, nhà ông lý trưởng bị hỏa hoạn cháy rụi, tất cả sổ sách đều ra tro, không biết làm sao mà nhố nổi những ngưòi mắc nợ thuế. Khi gặp Quý Đôn, ông lý trưởng than thở về việc này, Quý Đôn mỉm cười nói:

  • Quyển sổ ấy tôi đã thuộc cả rồi, để tôi đọc cho mà sao lại, can chi mà lo.

Quý Đôn đọc một mạch cho ông lý trưởng chép lại, nhưng ông lý trưởng vẫn hoài nghi không dám tin hẳn, đến lúc chiếu theo sổ thu thuê các món thì đúng cả, không có ai khiếu nại một lời nào.

Về sau ra làm quan, lúc đi sứ sang Trung Quốíc, một nhà Nho bên đó nghe tiếng Lê Quý Đôn có trí nhớ phi thường muôn thử tài, ông ta rủ Quý Đôn đi thăm chùa xem một bài văn bia. Ngôi chùa ấy ở sát bờ sông, nước thủy triều lên thường tràn ngập lên cả tấm bia. Quý Đôn vừa đọc xong thì bia đã khuất dưới nước. Lúc về nhà, nhà Nho kia hỏi lại thì Quý Đôn đã thuộc làu không sót một chữ.

Lúc mối ra làm quan, ông được bổ chức Hàn Lâm Viện Thị thư, ít năm sau sung chức Phó sứ trong phái đoàn Trần Huy Phục sang Trung Quốc (từ năm 1760 đến 1762). Về nước ông được thăng chức Hàn Lâm Viện thừa chỉ và bổ làm Đốic Đồng tỉnh Hải Dương. Hồi ấy, ông có ý bất mãn nên dâng sớ lên chúa Trịnh Doanh xin cáo về quê, đại ý:

“Đi sứ nước ngoài mới về gặp cảnh vỢ mất để lại con thơ dại, tôi thật không vui gì mà đi làm quan xa, vậy xin được giải chức về nơi điền lý”.

Chúa Trịnh Doanh bất bình liền giải chức cho ông về. Năm 1767, chúa Trịnh Sâm nắm chính quyền, Quý Đôn lại được mời ra trọng dụng.

Lê Quý Đôn để lại cho đòi một kho tàng đồ sộ các tác phẩm về triết học, lịch sử, chính trị, văn thơ. Tiếc rằng nhiều tác phẩm quý của Lê Quý Đôn thất lạc. Thông kê chưa đầy đủ có tối 40 bộ gồm hàng trăm quyển. Tiêu biểu là: Quân thư khao liệu, ông viết khi chưa đến tuổi 30; “Vân đài loại ngữ”, ông viết xong lúc 30 tuổi. Bộ “Bách khoa toàn thư” này đến nay còn nóng hổi giá trị các tri thức về triết học, khoa học, văn học, đề cập về vũ trụ luận, điều lệ, chế độ, văn hóa, văn tự, ngôn ngữ, sản vật tự nhiên… Đại Việt thông sử là bộ sử được viết theo thể ký truyện… Công trình biên soạn lớn nhất của Lê Quý Đôn là bộ Toàn Việt thi lục gồm 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thòi Lý đến đòi Lê. Không thể kể xiết tầm vóc của nhà bác học sâu sắc tài danh Lê Quý Đôn.

Điều đáng nói là mặc dù quyền cao, chức trọng văn tài lừng lẫy nhưng trái tim Lê Quý Đôn thường hòa nhập với nhân dân. Các đợt đi công cán nhiều địa phương ở mọi vùng đất nưốc, ông thấu hiểu bao nỗi thống khổ của nhân dân dưối ách cưòng hào, địa chủ và sự đục khoét của bọn tham quan, ô lại. Ông căm ghét tội ác của bọn này và thắng tay trừng trị.

Trong một chuyến công cán ở Tuyên Quang, dựa vào dư luận của nhân dân và tự mình thẩm xét, ông đã lôi ra ánh sáng một bộ mặt tham nhũng đầy uy quyền ở địa phương. Tuyên Quang có mỏ đồng ở Tu Long. Vối tưốc vị Liên trung hầu, tên Vũ Đình Trác làm quan lớn cai quản cả vùng này, ăn của hốì lộ và cho hai tay họ Hoàng thuê nhân công khai thác. Chúng bóc lột lao động rất thậm tệ và còn trốn thuế Nhà nưốc. Hai tên này cực kỳ giàu có và ỷ thế trong tay có tiền bạc, có sự che chở của Liên trung hầu Vũ Đình Trác, nên càng ngang ngược hà hiếp nhân dân chôn rừng xanh heo hút. Lắng nghe tiếng ca thán khi vị đại thần thầm lặng đi sâu vào thôn xóm, Lê Quý Đôn thấy như việc bức xúc của chính bản thân mình. Về tối nơi, bọn trọc phú nham hiểm này mang nhiều vàng bạc đến và chắp tay cung kính:

  • Bẩm quan lốn, ngài chẳng quản đường sá xa xôi, hiểm trở đã thân hành về thăm vùng sơn cưốc hẻo lánh này. Chúng con xin được dâng ngài chút quà nhỏ mọn…

Lê Quý Đôn, phất ống tay rộng, nói lấp lửng:

  • Lễ vật chỉ có chừng này thôi ư? Từ trưốc tối nay ông đã biếu quà bao nhiêu vị quan rồi?
  • Dạ, các vị đều có lòng thương và rộng lượng cả.

Lê Quý Đôn giận quá, vụt đứng lên và quát to:

  • Nhà ngươi quen thói đút lót cho, bọn vô lại mê của hối lộ. Vậy là phạm vào phép nước. Làm quan chẳng phải ai cũng tối mắt trưốc bạc vàng, lễ vật. Hãy cho gia nhân mang của bẩn này vê. Còn ngươi ở lại vì hai tội lốn: Đút lót để khai thác mỏ không đúng phép triều đình. Tội thứ hai là gian lận trốn thuế.

Quay sang tùy tùng và đám quan lại địa phương, giọng ông ra lệnh:

  • Bắt cổ tên này giam lại. Ta sẽ xét tội hắn và truy những ai ăn của hối lộ, nhũng nhiễu, hà hiếp nhân dân. Hãy tịch thu của đút lót và mọi khoản gian lận đưa vào quỹ công.

Bọn quan lại tham nhũng xanh mặt, mất hồn trước vị đại thần học rộng, tài cao mà thấu hiểu đòi sống xã hội, thấu hiểu dân tình và đức độ liêm chính.

Năm 1770, khi được triều đình cử đi kiểm soát hộ khẩu ở Thanh Hóa, ông đã phúc trình lên chúa Trịnh một vụ ăn hốĩ lộ hơn một nghìn lượng bạc. Lúc đổi làm Hộ Bộ Thị lang, ông lần lượt cách chức rất nhiều bọn quan tham.

Trong những năm làm Tuần phủ Thanh Hóa, Lê Quý Đôn huy động dân chúng tích cực khai hoang phục hóa, đào kênh, trồng dâu nuôi tằm. Nhân dịp chúa Trịnh đi tuần du qua tỉnh, ông dâng lên một kế hoạch khẩn hoang và chúa Trịnh chấp nhận. Trong khoảng ba năm, ông cho khai khẩn hơn một vạn mẫu ở bôn hạt Quảng Xương, Yên Định, cẩm Thủy và Nông Công. Trong lúc đó, nhà ông trưốc sau chỉ có mấy thửa tư điền do chúa Trịnh ban cho mà thôi. Suốt đòi làm quan của ông lúc nào cũng gần gũi dân chúng, ông thường đi đến mọi vùng sâu, vùng xa để tìm hiểu dân tình. Ông sông đạm bạc, thanh liêm và là một tấm gương sáng vì dân, vì nưốc.

Share This Post

Post Comment