HƯYỂN THOẠI VÀ sự THẬT VỀ GƯƠM BÁU THUẬN THIÊN CỦA VUA LÊ THÁI Tổ

HƯYỂN THOẠI VÀ sự THẬT VỀ GƯƠM BÁU THUẬN THIÊN CỦA VUA LÊ THÁI Tổ

Hơn 5 THẾ KỶ ĐÃ TRÔI QUA, SONG TRUYỀN THUYẾT VỀ Hồ Gươm và thanh thần kiếm Thuận Thiên mà Bình Định Vương Lê Lợi hoàn trả cho thần Rùa sau khi quôc gia Đại Việt đã đánh tan 10 vạn quân Minh hung bạo… vẫn lắng đọng, lung linh trong đời sổng tâm linh, ý thức dân tộc của mỗi người Việt Nam.

 

>>Thủ thuật hay để thi Violympic

Những câu đôĩ sơn son thếp vàng trong đền Ngọc Sơn không tiếc lòi ngợi ca giá trị – vẻ đẹp siêu tuyệt của thanh kiếm đặc biệt:

… Kiếm hữu dư linh quang nhược thủy

Văn tòng đại khối thọ như sơn

(Gươm có khí thiêng sáng màu nưỏc

Văn theo khối lân bền như non).

… Vạn kim bảo kiếm tàng thu thủy

Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ

(Gươm quý muôn vàn nước thu giữ

Lòng son một tấm ngọc hồ son)

Vê lai lịch của thanh kiếm Thuận Thiên đã có truyền thuyết và một số sử sách ghi chép. Trong đó có ghi sự tích “Vua được gươm thần” như sau:

“Đêm mồng 10 tháng 12 năm At Mùi (1415), có người ở Cô Lôi tên là Lê Thận, làm nghề đánh cá, đêm kéo vó ở sông Lương Giang, xứ Ma Viên, thấy dưới nước có ánh sáng như đuốc. Cả đêm không kéo được con cá nào, chỉ được một thanh sắt trông như hình thanh kiếm cũ, dài 3 thước, rộng 2 tấc, dày 3 phân (sách Lam Sơn thực lục và Đại Việt thông sử chép là dài hơn một thước). Trên thanh sắt có dấu linh phù và có câu thần chú rằng:

Thượng đế sắc mệnh

Bảo kiếm uy cương

Cử chỉ nhất động

Hỏa chiếu vạn phương

Sơn băng địa liệt

Phá tặc thần tàng

Cấp cấp như Luật Linh

Nghĩa là:

Đức Thượng đế có sắc mệnh

Đây là gươm báu oai cường

Chỉ cần sẽ hơi động đến

Lửa lóe sáng tới muôn phương

Chỉ núi, núi tan; chỉ đất, đất liệt

Chỉ thần, thần nép; chỉ giặc, giặc hàng

Tất cả đều tuân hành mau chóng, như ngươi Luật Linh

Năm ấy, vua 31 tuổi, cùng Thận chơi thân, gặp khi nhà Thận có giỗ. Vua tối làm lễ, nhìn gầm giường thấy ánh sáng lạ bèn tói gần xem thì ra đó là thanh sắt. Vua xin, Thận cho ngay.

 

>>Luyện thi PTTH

 

Vua đem về nhà mài thì hiện lên 4 chữ “Thuận Thiên Lê Lợi”, bèn giấu kín một nơi. Năm Bính Thân (1416), vua 32 tuổi, sáng sốm ngày 15 tháng Giêng vua ra cửa bắt được một chuôi gươm bằng đồng đen dài một tấc năm phân, dày 4 phân. Vua đem chuôi kiếm vào nhà rồi lấy lưỡi kiếm trưốc ra, đứng giữa sân, ngửa mặt lên trời khấn rằng:

  • Nay giặc Bắc xâm chiếm nưóc Nam sinh linh khổ sở đã lâu, nếu tôi cứu được dân sống thì xin tròi cho lưỡi kiếm và chuôi kiếm gắn liền như một.

Khấn rồi, vua cắm thanh kiếm vào chuôi, tự nhiên hai thứ gắn nhau như đúc liền, không sao tháo ra được nữa.

Đêm đến, gươm tỏa hào quang sáng như đuốc. Vua biết là thần vật, giấu kín một nơi không cho ai hay.

Một hôm, phu nhân Phạm Thị Ngọc Trần thấy vật gì treo trên cây đa trưốc nhà bèn bảo vua. Lê Lợi trèo lên xem, hóa ra bao kiếm. Đem xuống lắp vào thanh kiếm vừa khít. Vua càng khấp khởi mừng thầm: “Hẳn tròi cho ta ‘ kiếm báu”.

Mười mấy năm tròi “nếm mật nằm gai” trải bao phen vào sinh ra tử khắc nghiệt, “một gươm đại định dẹp phăng giặc Minh”, mở nền “thái bình muôn thuở”. Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428) Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế tại điện Kính Thiên ở thành Đông Đô (Thăng Long – Hà Nội). Nhó

lại chuyện xưa mới đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Nhân một buổi đẹp trời, vua ngự giá ra chơi hồ Tả Vọng (còn gọi là hồ Lục Thủy vì nước xanh sẫm), thuyền rồng vừa đến giữa hồ, bỗng dưới nước nổi lên một rùa vàng rất to. Rùa bơi đến trước thuyền rồng cúi đầu như có ý bái lạy và cất tiếng:

  • Việc nước đã xong, xin bệ hạ hoàn lại kiếm thần!

Vua tung gươm, rùa vàng liền đớp lấy lặn xuống nước mất tăm. Từ đó nhân dân gọi hồ Tả Vọng là hồ Hoàn Kiếm (hồ Trả Gươm).

Sở dĩ nảy sinh thanh kiếm thần Thuận Thiên cũng do bối cảnh lịch sử và tâm lý xã hội của thê kỷ XV. Thòi bấy giò vối tính chất hủy diệt nền văn hóa Đại Việt nhằm mục đích đồng hóa nước ta, giặc Minh đã tra tấn người Việt hết sức dã man: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưối hầm tai vạ” và tịch thu sách vở, đập vỡ bia đá, đền miếu các nơi… khiến ai cũng căm uất chúng. Tất thảy đều mong ưốc có bậc hiền tài cứu giúp trăm họ ra khỏi cảnh lầm than khốn cùng. Bình Định Vương Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống ngoại xâm đã đáp ứng được nguyện vọng, yêu cầu chính đáng đó, và ông đã được nhân dân “thần thánh hóa” thành nhân vật được Tròi – Đất (vũ trụ) trao cho sứ mệnh trọng đại. Bình Định Vương Lê Lợi không hoạt động trong không gian nhiều chiều nhưng ông lại được sự ủng hộ của tất cả các chiều không gian mà huyền thoại đã khắc họa một cách sinh động, ly kỳ: lưỡi gươm ở dưới nước, đốc gươm trong lòng đất, bao gươm ỏ trên cây.

Thần kiếm Thuận Thiên là sự kết tinh, hội tụ, thăng hoa của ba chiều không gian và cũng là biểu tượng Thiên Thòi – Địa Lợi – Nhân Hòa.

Chuyện trả kiếm cho thần Rùa là một mô tip độc đáo thường gặp trong chuyện kể dân gian và nó thể hiện sâu sắc ý nguyện yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Việc trả binh khí cho thần từng được nhắc nhở truyền tụng: An Dương Vương được thần Kim Quy cho mượn bảo kiếm đề chém gà tinh trắng. Khi xây thành ốc xong, nhà vua đã trả kiếm cho thần. Thần Kim Quy còn cho An Dương Vương mượn móng của mình làm lẫy nỏ thần nhưng khi dẹp tan quân xâm lược Triệu Đà, nhà vua lại không trả cho thần nên xảy ra cơ sự: Triệu Đà lập kê tráo lẫy nỏ rồi đem quân vây đánh Loa thành khiến An Dương Vương phải chịu cảnh nước mất nhà tan.

Phải chăng Bình Định Vương Lê Lợi đã nhớ tối bài học đó?! Cái gì đã mượn thì phải trả, phải trung tín, thủy chung như nhất.

Tại sao nơi mượn gươm thần là sông Lương (một đoạn của sông Chu thuộc địa phận Thanh Hóa ngày nay) mà nơi trả gươm lại là hồ Lục Thủy nằm giữa kinh thành Đông Đô? Như mọi người đã biết, thời Lê Lợi, Thanh Hóa được coi là Tây Kinh, Tây Đô, còn Thăng Long (Hà Nội ngày nay) gọi là Đông Kinh, Đông Đô. Vậy nhà Lê có 2 “đô thành” một ở “chôn Tổ”, một ở nơi lên ngôi vua. Vua chọn địa điểm Mượn – Trả gươm theo chu trình từ Tây sang Đông hàm ý nghĩa Triết – Mỹ Á Đông. Hướng Đông là hướng mặt trời lên, hướng Tây là hướng mặt trời lặn. Mượn kiếm ở phương mặt trời lặn ngụ ý thời cuộc lúc đó đen tôi, buồn thảm. Trả kiếm ở phương mặt trời mọc thê hiện vận hội nước nhà hưng thịnh, một rạng đông, một bình minh mới bắt đầu. Lê Lợi chọn việc trả kiếm ở nơi hồ biếc giữa kinh thành muôn chứng tỏ cho thần linh và bàn dân thiên hạ thấy tấm lòng quang minh chính đại của mình. Và lễ thức Mượn – Trả gươm theo sự vận hành của mặt trời (ngược chiều kim đồng hồ) từ Tây sang Đông cũng nói lên cơ tròi vận nước đã thay đổi, đã chuyển sang trang sử mới huy hoàng. Đúng như vậy, sau cuộc chiến thắng giặc Minh của Bình Định Vương Lê Lợi, nước Đại Việt đã ca khúc khải hoàn và mở nền thái bình thịnh trị dài lầu nhất (360 năm) trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

 

Share This Post

Post Comment