Di tích phủ Tây Hồ

Di tích phủ Tây Hồ

cảm tạ thịnh tinh”. Ngô Sinh nổi: “Chúng tôi tự tiện đến chỗ tôn nghiêm này, rát láy làm sợ hâi và hổ thẹn”. Lý Sinh nói: “Khúc hát của ngưòi ngư dân rất là khó hiểu, xin mỹ nhân giái rõ ý nghĩa cho chúng tôi được biết”. Mỷ nhân cười mà rằng: “Câu hát ngông ắy có khó nghĩa gì đâu. Chứ “hồ đậu” là nói trong bầu đã hết rượu, chứ “tinh lieu” ỉà nói trong giỏ của ta không có cá vậy. Còn câu cuối có chứ “chiêm bốc” chi là ngụ ý sự bói toán trong Kinh Dịch mà thôi”. Ba người nghe nói than rằng: ‘‘Nàng có lẽ là người tròi chăng? Sao mà tinh tuệ đến như thé!”. Mỹ nhãn nói: “Các ngài bụng chứa gám vóc, miệng phun châu ngọc, thật ]à đáng kinh sợ. Vừa rồi tôi ngẫu nhiêm nghĩ ra một vế câu đối, xin các ngài đối cho”.

>Khóa luyện thi violympic toán lớp 8

Đối xong, chào ba ông khách, trớ vào nhà trong. Ba nguòi ìiền nhân lúc có trăng ai về nhà nẩy. Đến vài tháng sau lại đến chỗ cũ thì chí thấy nưóc hồ mênh mông, chắng có lâu đài nhà cứa gi cá, to nhỏ chi nghe tiếng ve sầu kêu ve ve ở trèn cây mà thôi. Ba ngưòi rái chiếu á dưới bóng cáy ngồi chơi, chợt thấy thân cây có hàng chử triện rằng:

Vân tác y thưòng phong tóc xa Tiên du đâu xuót mộ yên hà Thế nhân dục thức ngô danh tính “Nhát đại sơn nhân ngọc Quỳnh Hoa”.

(chứ “nhất” và chủ “đại” tức là chữ “thiên”. Chữ “nhân đứng” và chữ “sơn” tức lá chữ “tiên”)

Dịch:

Lấy mây ìàm xiêm áo, lấy gió làm xe

Buối sáng đi chơi vùng trời “Đâusuắt”[1]

Buổi chiều ngao du nai mây khói

Người đời muốn biêt họ tên cứa ta

Ta đâv ỉà người tiên trên trời tên ỉà Quỳnh Hoa.

Lý Sinh nói: “Xem ý thơ này, khí cách không phải là người tầm thường, chuyến trước chúng ta được gặp gỡ chắc là thiên tiên, that là hân hạnh lỏn vậy” Phùng Công gật đầu, nhân đem chuyện nám

 

trước đi sứ khi qua núi về Lạng Sơn có-gặp tiên nói cho cả hai bạn nghe. Ngô Sinh ngậm ngùi nói: “Câu thơ của láo đài trước cho thần tiên là hư huyễn. Nay mới tin việc “La Thập”, “Tăng Nhụ”[2] ngày xưa không phải là hoang đường”. Trò chuyện xong, ba ngưòi cùng về, mang một ý tưởng tiếc rẻ và huyền vọng ô”.

>>Xem thêm luyện thi THPT

Trước nủ sỹ Đoàn Thị Điểm chưa nơi nào truyền tụng về cuộc gặp gõ giủa Liễu Hạnh công chúa và nhà tho Phùng Khắc Khoan và hay thư sinh họ Ngô, họ Lý. Sau khi tác phẩm của Bà in ra trong “Truyền kỳ tân phd” thì câu chuyện này được dân gian hóa cũng nhu một số tác giả khác, như Kiều Oánh Mậu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Huy Lượng, Trần Huy Bá, Hoàng Đạo Thuý, Giang Quần, Nguyễn Vinh Phúc…đều nhẳc lại nhứng điều mà Đoàn Thị Điểm đã viết. Kẻ cả các truyền thuyết dân gian nhân dân quanh Hồ Tây lưu truyền cũng dều tử tác phẩm thành văn của Đoàn Thị Điểm mà dân gian hóa thành, thí dụ nhu truyền thuyết về Tờ giây hồng chẳng hạn [3]. về phương diện xây dụng hình tượng Thánh Mâu Liễu Hạnh, thì sự kiện cuộc đàm đạo văn chương này đã góp phần khác hoạ nên tính cách rắt dặc trưng của Thánh Mầu Liễu Hạnh, đó là tính cách văn chuơng, mà cái này dâ chi phối nhiều tói tính anh lình của vị ml thần qua tục giáng bứt.

  1. Di tích phủ Tây Hồ

Hiện nay phủ Tây Hồ nằm trên doi đất nhô ra hồ thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nộì. Cũng nhu nhiều dì tích văn hóa

  • tín ngưởng khác, việc xây dựng và sủa chữa đền phủ là một quá trình, nhiều khi kéo đài tù đòi này sang dòí khác. Hơn thế nứa, tâm thức dân gian luôn luồn muốn “cổ hóa” các di tích địa phương mình, họ coi dí tích càng cổ thì càng có giá trị, do vây việc đoán định niên đạỉ xây dựng đầu tiên của dì tích là công việc khó khăn đối với các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, việc xây dựng các di tích nó có quy luật riêng, nhò vào những đoán định trực tiếp dựa vào phong cách kiến

trúc và trang trí, dựa vào các bi ký, thậm chi có thể thồng qua các thu tịch vốn đă có niên đại tương đối hay tuyệt đối.

Cũng không rỏ xuất phát tù đâu mà nhà nghiên cứu mỹ thuật đã quá cố Chu Quang Trứ cho rằng cho đến trước năm 1943, phủ Tây Hồ còn là một điện Mẩu trong chùa, chí có phần hậu cung. Trong phong trào yêu nước chổng Pháp, xuất phát tử chú trương phát huy sức mạnh của truyền tháng dân tộc, nên nhân dân đã quyên góp công sức của dân làng và khách thập phương để xây dựng lại di tích điện Mầu này thành một hợp the kiến trúc tỗn giáo hoàn chỉnh hơn với dủ nhà tiền tế, trung tế và hậu cung (theo mồ thưc Phủ Dầy). Tuy nhiên, mồng bốn tết năm Đinh Hại (1947), thục dân Pháp đã đốt làng Tây Hồ, làm cháy luôn cả điện thà Mẩu. Năm 1952 người ta xây dựng lại gác chuông trên gian tiền tế. Điện Mẩu đà thành phủ thò Mâu, nhưng quy mồ còn nhỏ.

Mãi dến các thập kỷ 80 sang đầu thập kỷ 90 cúa thế kỳ XX, trong không khí đỗi mới và phục hồi tín ngưỡng, lễ hội, người ta đã tu sứa và dựng lại phủ Tãy Hồ với nhiều kiến trúc mỏi to đẹp han. Năm 1989 xây dựng lại tòa hậu cung đã bị dột nát, năm 1990 xây dựng lại nhà khách (tiền tế), vùa là noi biện lễ dâng lên đền, vừa là noi ăn uống, nghỉ ngơi của khách. Năm 1991 xây dựng cống phú, năm 1992 mỏ rộng Sơn trang tủ 10 m- lên 80 m[4], xây dựng lại cả điện Cô và Cậu. Theo tác giả, những cồng trình kiến trúc còn lại đến nay ở phủ Tây Hồ đều là kiến trúc mđi, chỉ trủ 3 tấm bia có niốn đại sớm hơn một chút là 1928, 1937 và 1940 K

về niên đại xây dựng và phong cách, chất liệu kiến trúc, khỉ viết phần “Phủ Tây Hồ và sự phụng thờ Mầu Liễu Hạnh”, một phần của sách “Đạo Mẩu ở Việt Nam”, T.l do Ngô Đức Thịnh chủ biên2, Hà Đình Thành đã ghi lại khá đầy đủ nhủng phần viét cúa Chu Quang Trứ, chứ tác giả không hề có ý kiến gì         thêm.

Gần đây, trôn “Tạp chí Vãn hóa dân gian”,           số 3/2008, Chu    Xuân

Giao và Phan Lan Hường cỏ bài viết dài Truy tìm nhùng khoảng chân thực riêng ìẻ: về thời diểm xuất hiện phù Tây Hồ nhin tứ nhân

loại học ỉịch sử” các tác giả bài viết đã mất nhiều công, nhưng không phải là vô ích khi bằng con dường khảo cứu, so sánh nhiều tài liệu thư tịch dã đi đến két luận là thời điểm xây dụng Phủ Tây Hồ là khá muộn, khoảng các thập niên 30-40 của thế kỷ XX và đồng ý vóí niên đại năm 1943 mà Hà Đình Thành, nhung thực ra là Chu Quang Tnỉ nêu ra trong công trình truóc đó của ồng! Cái câu hỏi mà Chu Xuân Giao dật ra cho Hà Đình Thành là cân CIỈ vào dâu mà đưa ra các niên đại nhu vậy, thì nay nên chuyển sang cho Chu Quang Trđ, nhưng rắt tiếc nhà nghiên cứu nghệ thuật này đă quy tiên tữ nhiều năm trước dây.

Có lẽ không cần bàn gì nhiều khi cho rằng Phú Tây Hồ được xây cất khá muộn như đã nói ỏ trôn, tuy nhiên có vấn đề đặt ra là, tiền thân của Phủ Tây Hồ là một diện Mẫu trong chùa Bảo Khánh hay chính đó là Đền Bảo Khánh thò Thảnh Mẫu Liễu Hạnh ? Theo tôi, có nhiều khả năng trước đó trên nền của phú Tây Hồ hiện nay đã tồn tại một ngôi chùa, mà trong đó, theo truyền thống Phật giáo ở Bắc Bộ Việt Nam, vùa thờ Phật vửa thờ Mâu, theo mô thức “tiền Phật hậu Mầu”. Còn Mẫu ở đây cô thế là Tam tòa Thánh Mẫu, trong đó có Liễu Hạnh Thánh Mẫu là thần chủ như bao nơi khác, tuy nhiên, Tây Hồ hơn tất cả mọi nơi khác là ở chỗ, nó khống chí là nơi non Ĩ1UÓC hủu tình, mà còn vì nổ gần đồ thị Hà Nộì, noi đầu mối giao thưong, nơi sinh sống của thị dân, nơi tập trung cứa giỏi thương nhân, một cơ sỏ xã hội vô cùng thuận lợi cho thứ tín ngưỡng bản địa này sinh sôi nảy nớ. Điều này cũng giải thich tại sao ngày nay khi đô thị hóa, hiện đại hóa phát triển, kinh tế thị trưòng bủng phát, thì Tây Hồ càng trà nên sầm uất, táp nập, nhắt là vào dịp ngày ky giỗ Thánh Mâu. Người ta mườm mượp đén đây dể cầu xin may mắn, sức khòíí và tài lộc.

 

Share This Post

Post Comment